NGHIÊN CỨU SINH: NGUYỄN THU NGHĨA

ĐỀ TÀI

TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CÁI ĐẸP TRONG ĐỜI SỐNG XĂ HỘI

 Chuyên ngành: Mỹ học

Mă số: 62 22 80 15

 

HÀ NỘI – 2010

 

LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI VIỆN TRIẾT HỌC THUỘC VIỆN KHOA HỌC XĂ HỘI VIỆT NAM  

 

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS ĐỖ HUY - VIỆN TRIẾT HỌC

THUỘC VIỆN KHOA HỌC XĂ HỘI VIỆT NAM

 

Phản biện 1: GS.TS. TRẦN VĂN BÍNH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ – HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

 

Phản biện 2: PGS.TSKH. ĐỖ VĂN KHANG

TRƯỜNG KHOA HỌC XĂ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(ĐẠI  HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)

 

Phản biện 3: PGS.TS. VŨ MINH TÂM

                    TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 

Luận án sẽ được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp nhà nước họp tại Viện Triết học, Hội trường số: 203, Gác 2, số59 Láng Hạ - Ba Đ́nh – Hà Nội. Vào hồi:…8 giờ 30, ngày 24 tháng 3 năm 2010

 

Có thể t́m hiểu luận án tại:

-         Thư viện Quốc gia

-         Thư viện Viện Triết học

BẢN TÓM TĂT

 MỞ ĐẦU

 

1. Tính cấp bách của đề tài

Cái đẹp là một hiện tượng thẩm mỹ giữ vị trí quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xă hội. Cái đẹp không chỉ xuất hiện trong quan hệ của con người với tự nhiên, với xă hội mà nó c̣n là nhân tố quyết định các hoạt động sáng tạo của nghệ thuật. Thực tiễn của toàn bộ lịch sử nhân loại cũng như sự phát triển của văn hóa Việt Nam đă chứng minh rằng ở đâu cái đẹp xuất hiện th́ ở đó cái xấu bị đẩy lùi. Cái đẹp làm cho cuộc sống sinh tồn và giao tiếp thêm đa dạng, phong phú. Cái đẹp nâng cao giá trị của lao động. Cái đẹp thúc đẩy giáo dục, hoàn thiện nhân cách.

Hiện nay chúng ta đang xây dựng một xă hội mới. Cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu đang diễn ra quyết liệt. Cùng với sự tiếp biến các giá trị thẩm mỹ tiến bộ của nhân loại th́ nhiều cái xấu cũng đang len lỏi vào đời sống của nhân dân ta. Các cái xấu này chính là mặt đối lập của cái đẹp đă khơi dậy các thị hiếu thấp hèn, có nguy cơ làm băng hoại các giá trị truyền thống đă từng tồn tại lâu đời trong t́nh cảm và tâm hồn của nhân dân ta.

Sự nghiệp xây dựng xă hội mới, các quan hệ thẩm mỹ mới ở nước ta trong nhiều thập kỷ qua luôn luôn gắn liền với các chỉ dẫn của C.Mác và Ph.Ăngghen. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xă hội ở Liên Xô và Đông Âu, không ít người hoài nghi tính chân lư, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác, trong đó có mỹ học mácxít. Ở nước ta, như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đă chỉ rơ, hiện nay một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân đă phai nhạt với lư tưởng cao đẹp của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Đảng ta. Sự phai nhạt lư tưởng ấy đă dẫn đến không ít những hành động và các lập luận sai trái về mặt thẩm mỹ, làm cho nhiều cái xấu trỗi dậy có nguy cơ lấn át cái đẹp. Những quan niệm sai lầm về bản chất và sự vận động của cái đẹp đă tạo nên sự hoài nghi về cái đẹp của chủ nghĩa xă hội và đă sản sinh ra không ít các sản phẩm thẩm mỹ độc hại. Có những sản phẩm thẩm mỹ phá hoại những thị hiếu đúng đắn, thậm chí làm xói ṃn lư tưởng thẩm mỹ của Đảng ta và nhân dân ta. Trong t́nh h́nh như vậy, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu các quan điểm về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen có ư nghĩa thời sự đặc biệt quan trọng.

Hơn sáu mươi năm qua, mỗi bước phát triển của quan hệ thẩm mỹ và mỗi thành công của sáng tạo nghệ thuật trong đời sống thẩm mỹ của dân tộc ta đều gắn bó mật thiết với sự lănh đạo đúng đắn của Đảng và các tư tưởng cách mạng của mỹ học mácxít. Cuộc đấu tranh mới trên lĩnh vực thẩm mỹ và nghệ thuật hiện nay đ̣i hỏi chúng ta quán triệt hơn nữa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong cơ chế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa trong đó có nền mỹ học mácxít. Việc khắc phục tư duy kinh nghiệm, chống bảo thủ cũng như bắt chước rập khuôn trong khi tiếp thu các giá trị truyền thống và hội nhập; việc nghiên cứu sâu hơn lư luận về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen giúp chúng ta củng cố ḷng tin vào lư tưởng xă hội chủ nghĩa trong tiếp biến các giá trị văn hoá quốc tế; từ đó phát huy mọi khả năng sáng tạo trong sự nghiệp nghiên cứu mỹ học và nghệ thuật ở nước ta. Chúng ta chỉ có thể đạt được kết quả tốt đẹp trong quá tŕnh xây dựng và phát triển con người toàn diện khi chúng ta thấm nhuần và tin tưởng mạnh mẽ vào các chỉ dẫn quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất, sự vận động cũng như quy luật của cái đẹp.

2. T́nh h́nh nghiên cứu đề tài

Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, có một cuộc thảo luận lớn về nguồn gốc, bản chất của cái đẹp được diễn ra. Cuộc thảo luận được chia làm ba khuynh hướng khác nhau. Một khuynh hướng cho rằng cái đẹp mang bản chất xă hội, nó không phải là thuộc tính tự nhiên của mọi hiện tượng và sự vật. Khuynh hướng này được gọi là khuynh hướng duy xă hội.

Khác với khuynh hướng duy xă hội về cái đẹp, khuynh hướng duy tự nhiên coi cái đẹp về bản chất mang thuộc tính tự nhiên như: vàng, bạc, màu sắc, kết cấu vật chất, h́nh thức sinh vật và các phong cảnh tự nhiên. Khuynh hướng này gắn với sự vận động tự nhiên của vật chất. Cái đẹp trong tự nhiên xuất hiện … là do kết quả của sự phát triển hợp quá tŕnh, tức là phát triển tất yếu của tự nhiên. Sự ra đời và phát triển của cái đẹp trong tự nhiên là gắn liền với bản thân giới tự nhiên. Phủ nhận tính khách quan của cái đẹp tự nhiên là phi lư và chỉ có những người đă mất hết t́nh cảm hài hước mới nghĩ rằng cái đẹp của ánh sáng mặt trời là do kết quả hoạt động cải tạo của con người. Các nhà mỹ học theo khuynh hướng này phủ nhận luôn nguồn gốc xă hội của các thuộc tính thẩm mỹ. Những thuộc tính khách quan của vàng và bạc mà người ta gọi là những thuộc tính thẩm mỹ, gọi là đẹp đều có nguồn gốc tự nhiên của chúng, chứ không phải có nguồn gốc xă hội. Cái đẹp tồn tại ở trong tự nhiên và độc lập đối với con người, trước khi có con người.

Khuynh hướng thứ ba khẳng định, bản chất của cái đẹp là nằm trong quan hệ thực tiễn của con người với thế giới, nó gắn liền với các hoạt động thực tiễn lịch sử của con người với các quá tŕnh cải tạo tự nhiên và xây dựng xă hội cùng với các thước đo giá trị của con người được h́nh thành trong quá tŕnh ấy. Khuynh hướng này được gọi là khuynh hướng thực tiễn luận. Theo khuynh hướng thực tiễn luận th́ vật chất, xă hội, tự nhiên, con người và các thuộc tính đẹp là không đồng nhất. Màu sắc, ánh sáng, hoa cỏ, con người, xă hội có nhiều thuộc tính khác nhau. Có thuộc tính vật lư, thuộc tính sinh học và thuộc tính thẩm mỹ. Thuộc tính đẹp của tự nhiên và xă hội  là do hoạt động thực tiễn của con người phát hiện ra và tạo thành. Nó không đồng nhất với thuộc tính lư, hoá, sinh vật của các hiện tượng tự nhiên và xă hội.

Cả ba khuynh hướng trên đều gắn với những vấn đề thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xă hội những năm 60 của thế kỷ XX để phân tích cái đẹp. Khuynh hướng cho rằng, cái đẹp vốn là bản chất của tự nhiên tồn tại trước khi có con người. Có con người hay không có con người th́ tự nhiên vẫn đẹp mà con người cũng là bông hoa của tự nhiên. Nếu gắn cái đẹp vào các vấn đề xă hội là làm sai lệch bản chất của cái đẹp. C̣n khuynh hướng duy nhất hoá cái đẹp mang tính xă hội th́ cho rằng, chỉ có trong xă hội mới có cái đẹp và xă hội nào th́ cái đẹp ấy. Cái đẹp hoàn toàn có tính giai cấp. Khuynh hướng thứ ba khi cho rằng, dù trong quan hệ của con người với tự nhiên và xă hội thế nào th́ cũng không có cái đẹp vốn có. Cái đẹp phải do thực tiễn lao động, đấu tranh cải tạo tự nhiên, xây dựng xă hội theo lư tưởng thẩm mỹ của con người mới h́nh thành. Khuynh hướng này gắn bó mật thiết với các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai tṛ của hoạt động thực tiễn của con người trong quan hệ thẩm mỹ. Quan điểm này cũng được một số nhà mỹ học ở Trung Quốc đồng t́nh. Cuộc thảo luận lớn về cái đẹp này đă dựa trên các hiểu biết và cách giải thích khác nhau của nhiều nhà mỹ học có tên tuổi trên thế giới xung quanh các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen.

Do t́nh h́nh đấu tranh tư tưởng lúc đó, cuộc thảo luận lớn về vấn đề nguồn gốc và bản chất của cái đẹp đă được nhiều nhà nghiên cứu mỹ học ở nước ta hưởng ứng. Từ đó một loạt tác phẩm viết về cái đẹp ở Việt Nam đă ra đời. Đầu tiên có thể kể đến cuốn "Đẹp" của Vũ Khiêu và cuộc thảo luận rộng răi về cuốn sách này vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước. Tiếp đến là cuốn "T́m hiểu mỹ học Mác - Lênin" của Hoài Lam,  "Cái đẹp - một giá trị" của Đỗ Huy, "Đi t́m cái đẹp" của Lê Ngọc Trà - Lâm Vinh; "Đưa cái đẹp vào đời sống" của Như Thiết, “Mỹ học Mác – Lênin” của Đỗ Văn Khang và Đỗ Huy.v.v…

Trong các cuốn sách này, một bộ phận tác giả theo quan điểm duy xă hội, một bộ phận tác giả đă ủng hộ quan điểm thực tiễn luận; có tác giả đă kết hợp cả ba quan điểm: duy tự nhiên, duy xă hội và thực tiễn luận.

Triển khai nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của cái đẹp, quan điểm thực tiễn luận đă khẳng định cái đẹp ra đời và phát triển trong tiến tŕnh hoạt động thực tiễn của con người, cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quan hệ thẩm mỹ. Một số tác giả trong các tác phẩm, các giáo tŕnh mỹ học của ḿnh đă phân tích một cách sâu sắc về nguồn gốc, bản chất của cái đẹp từ lao động, thông qua lao động các giác quan của con người được hoàn thiện, đặc biệt là các cơ quan sóng đôi, chủ thể thực dụng dần được chuyển sang chủ thể thẩm mỹ.

Một số tác giả theo quan điểm duy xă hội ở nước ta khẳng định không có cơ sở để lư giải nguồn gốc và bản chất của cái đẹp trong cơ cấu vật chất, mà nó phải là quá tŕnh xă hội hoá, người hoá.

Quan điểm chứng minh có cái đẹp tự nhiên thừa nhận trong tự nhiên có cái đẹp tiềm năng đối với con người. Quan niệm này cũng là quan niệm về cái đẹp của tự nhiên dựa vào quy luật hài hoà vốn có của sự phát triển vật chất, của sự vận động từ giản đơn đến phức tạp, từ vô cơ đến hữu cơ, từ sự phá huỷ các cơ cấu cũ và h́nh thành các cơ cấu mới của vật chất... Các nhà mỹ học này thường coi cái hài hoà chính là cái đẹp. Quan niệm này là sự kế thừa các quan niệm của những nhà duy vật về tỷ lệ, độ, kích thước của các kết cấu vật chất.

Có thể nói, khi bàn về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, ở nước ta tuy c̣n có ba quan điểm khác nhau nhưng đều dựa trên quan điểm thống nhất với tư tưởng này hay tư tưởng khác của C.Mác và Ph.Ăngghen. Song, vấn đề về sự vận động lịch sử của cái đẹp trong lư luận mỹ học cũng như trong đời sống xă hội th́ trong nghiên cứu cũng như trong các giáo tŕnh chưa có ai bàn đến một cách hệ thống, trực diện. Có một vài tác giả đề cập đến vấn đề sáng tạo theo quy luật của cái đẹp của C.Mác trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 nhưng các cách hiểu của họ cũng khác nhau. Có người cho rằng, C.Mác đặt vấn đề sáng tạo theo quy luật của cái đẹp với ư nghĩa sáng tạo nghệ thuật phải gắn với quy luật của tự nhiên. Đó là quy luật hài ḥa và tỷ lệ. Có người hiểu, sáng tạo theo quy luật của cái đẹp có nghĩa là các quy luật về h́nh thức phải phù hợp với nội dung. Lại có người hiểu tư tưởng của C.Mác về quy luật của cái đẹp là quy luật nhân hóa tự nhiên theo h́nh ảnh của con người. Không ít tác giả nghiên cứu quy luật của cái đẹp chính là quy luật của lao động sáng tạo. Nếu không giải quyết vấn đề sự vận động lịch sử của cái đẹp và sự sáng tạo theo quy luật của cái đẹp trong đời sống xă hội một cách đúng đắn th́ việc giải quyết về mặt lư luận cũng như thực tiễn đối với toàn bộ vấn đề cái đẹp nói chung mà C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất sẽ c̣n rất nhiều mảng chưa trọn vẹn mà đây thực chất là một trong những vấn đề cơ bản nhất của C.Mác và Ph.Ăngghen về cái đẹp. V́ vậy, trong luận án này khi nghiên cứu vấn đề nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, tác giả sẽ đi sâu phân tích sự vận động lịch sử và sự sáng tạo theo quy luật của cái đẹp theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen.

Cùng với sự thiếu vắng những công tŕnh nghiên cứu các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự vận động lịch sử của cái đẹp, vấn đề vận dụng các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về cái đẹp để phân tích tiến tŕnh, hoàn cảnh xă hội và những điều kiện nảy sinh cái đẹp ở Việt Nam cũng c̣n ít được quan tâm. V́ thế, luận án này sẽ dành một phần quan trọng cho việc vận dụng các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào phân tích nghiên cứu cái đẹp ở Việt Nam từ trước và sau cách mạng tháng Tám cho đến nay. Đây là một vấn đề rất lớn, luận án cố gắng nhận diện sự vận động của cái đẹp trong một số mốc quan trọng của tiến tŕnh phát triển văn hoá Việt Nam từ những nhận thức của ḿnh khi học tập cách tiếp cận với cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen. Luận án không có tham vọng đánh giá và tŕnh bày các đặc trưng chủ yếu của cái đẹp trong mỗi thời kỳ phát triển lịch sử xă hội Việt Nam bởi v́ đây sẽ là một công tŕnh rất lớn mà nhiều thế hệ nghiên cứu mỹ học ở nước ta phải góp sức khám phá.

 

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án là làm rơ về mặt khoa học những tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất và sự vận động lịch sử của cái đẹp trong đời sống xă hội.

Để thực hiện mục đích này, luận án đặt các nhiệm vụ sau:

- Phân tích một cách có hệ thống các tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất của cái đẹp.

- Tŕnh bày các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về sáng tạo theo quy luật của cái đẹp và sự vận động lịch sử của nó trong các phương thức sản xuất thuộc các h́nh thái kinh tế - xă hội khác nhau.

- Vận dụng các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về cái đẹp phân tích bản chất và quá tŕnh vận động của cái đẹp trong cuộc sống và trong mỹ học của xă hội ta nhằm chứng minh rằng, cái đẹp của chủ nghĩa xă hội gắn bó chặt chẽ với quá tŕnh giải phóng lao động, giải phóng xă hội và giải phóng con người.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Vấn đề tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất và sự vận động của cái đẹp trong đời sống xă hội là một vấn đề lớn được tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau và liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đó có nghệ thuật. Trong phạm vi luận án, tác giả sử dụng cách tiếp cận của C.Mác và Ph.Ăngghen trên quan điểm giá trị luận và quan điểm lịch sử để nh́n rơ hơn nguồn gốc lao động, bản chất xă hội và sự vận động của cái đẹp trong xă hội Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đặc biệt là thông qua đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng ở Việt Nam.

5. Cơ sở lư luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lư mỹ học Mác- Lênin, các quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về mỹ học và thực tiễn cuộc sống cũng như văn hoá nghệ thuật ở nước ta.

Luận án sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgic - lịch sử, trừu tượng hoá, khái quát hoá... khi tŕnh bày những vấn đề nguồn gốc, bản chất và sự vận động của cái đẹp.

 6. Cái mới của luận án

- Hệ thống hoá và phân tích sâu các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất của cái đẹp trên cơ sở những tư liệu và cách phân tích gắn với thời kỳ đổi mới.

- Làm rơ tư tưởng cơ bản và quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quy luật của cái đẹp và sự vận động lịch sử của cái đẹp trong đời sống từ các xă hội tiền tư bản đến xă hội tư bản và sau chủ nghĩa tư bản.

- Vận dụng quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về cái đẹp, nhận diện và phân tích cái đẹp cũng như sự vận động lịch sử của nó trong mỹ học và thực tiễn xă hội Việt Nam.

7. Ư nghĩa của luận án

Luận án góp phần làm rơ hơn quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất và sự vận động của cái đẹp trong đời sống xă hội ở giai đoạn hiện nay và từ đó khẳng định việc vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của các ông có ư nghĩa lư luận và thực tiễn quan trọng trong mỹ học và thực tiễn ở nước ta, củng cố niềm tin vào cái đẹp của chủ nghĩa xă hội.

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy mỹ học, đặc biệt là các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất và sự vận động của cái đẹp trong đời sống xă hội.

8. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương 10 tiết.

 


 

Chương 1

 TƯ TƯỞNG CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT

CỦA CÁI ĐẸP

 

1.1. Cái đẹp và sự phong phú thẩm mỹ của nó trong đời sống xă hội

Cái đẹp là một bí mật thật sự của đời sống con người. Nó là nhu cầu sống của mỗi người, mỗi cộng đồng người, mỗi dân tộc, mỗi thời đại và cả nhân loại.

Suốt bao nhiêu thế kỷ, các nhà triết học lớn của nhân loại đă quan tâm nghiên cứu và đề xuất vai tṛ quan trọng của cái đẹp trong đời sống. Từ Hêraclít đến Phơbách, từ Platon đến Hêghen, từ Êpiquya đến Kant đều quan tâm đến sự phong phú thẩm mỹ của cái đẹp. Các nhà triết học duy vật ở mọi thời đại đều coi cái đẹp tồn tại muôn h́nh, muôn vẻ như cuộc sống của tự nhiên và con người. Cả Hêraclít, Điđrô đến Tsécnưsépxki đều đă nghiên cứu cái đẹp gắn với sự phong phú của tự nhiên và cuộc sống.  Cái đẹp đă gắn liền với các hoạt động xă hội, với nhận thức của con người, với nền giáo dục, với bản sắc dân tộc, với các thị hiếu, các lư tưởng và với cả bản thân cơ cấu của nó, những độ, những mực thước, những tỷ lệ, những hài hoà, những xúc động, những quan hệ… với thời đại. V́ thế, cái đẹp là một lĩnh vực vô cùng phong phú trong các lĩnh vực thẩm mỹ của đời sống xă hội.

Sự phong phú của cái đẹp được nhân lên nhiều lần khi ta đi vào nghiên cứu các lĩnh vực thưởng thức, đánh giá, sáng tạo và lưu giữ nghệ thuật.

Nhiều nhà mỹ học lớn, ngay cả C.Mác, Ph.Ăngghen, Plêkhanốp cũng đă nghiền ngẫm và suy tư rất nhiều về sự phong phú thẩm mỹ của cái đẹp. Trong tác phẩm Nghệ thuật và đời sống xă hội, Plêkhanốp đă nghiên cứu vẻ đẹp của các đồ mỹ nghệ, đồ kim hoàn của cuộc sống lao động và sáng tạo. C̣n C.Mác và Ph.Ăngghen đă nghiên cứu sự vận động của cái đẹp. Có cái đẹp phát triển b́nh thường, có cái đẹp phát triển mạnh mẽ thành cái cao cả. Có cái đẹp bị thất bại tạm thời thành cái bi, có cái đẹp tự biến ḿnh thành cái xấu. Tất cả sự vận động ấy của cái đẹp đă tạo nên sự phong phú vô cùng tận của nó.

Có thể nói, các nhà mỹ học ở các thời đại khác nhau đă nghiên cứu sự phong phú của cái đẹp và đă tạo ra các cách tiếp cận rất khác nhau về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp.

1.2. Tư tưởng của các nhà mỹ học trước Mác về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp

Nh́n chung khi lư giải nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, các nhà mỹ học trước Mác đă có ba cách giải quyết khác nhau.

Mỹ học của nhà triết học duy tâm chủ quan Kant - người mở đầu nền triết học cổ điển Đức đă giải quyết vấn đề nguồn gốc và bản chất của cái đẹp theo quan niệm chủ quan của con người. Các tư tưởng về vấn đề này được tŕnh bày trong tác phẩm "Phê phán khả năng phán đoán". Theo Kant không có khoa học về cái đẹp, chỉ có phán đoán cá nhân về cái đẹp. Đẹp hay không đẹp là do sở thích của mỗi người.

Nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, ông đă chia cái đẹp làm bốn phương diện để phù hợp với triết học chủ quan của ông. Đó là cái đẹp về chất; cái đẹp về lượng; cái đẹp về tương quan và cái đẹp về h́nh thái. Cả bốn phương diện về cái đẹp này đều là do chủ quan con người quyết định.

Khác với Kant, Hêghen lại xuất phát từ những quan điểm trong hiện tượng luận tinh thần để nghiên cứu về cái đẹp. Theo Hêghen, cái đẹp có nguồn gốc tinh thần và bản chất của cái đẹp là biểu hiện của ư niệm tuyệt đối. Hêghen khẳng định ư niệm vận động đến tuyệt đối th́ sản sinh ra cái đẹp đầy đủ. Cái đẹp là biểu hiện đầy đủ của ư niệm chung trong một hiện tượng cá biệt. Cái đẹp của nghệ thuật là sự biểu hiện của tinh thần tuyệt đối trong h́nh tượng.

N.G.Tsécnưsépxki trong luận án tiến sĩ "Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực", đă coi cái đẹp có nguồn gốc từ cuộc sống và bản chất của cái đẹp là cuộc sống theo quan niệm của con người.

Theo Tsécnưsépxki, cái đẹp là cuộc sống. Một thực thể đẹp là một thực thể trong đó ta nh́n thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta. Một đối tượng đẹp là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nhắc ta nghĩ đến cuộc sống". Đó là ba cách giải thích khác nhau của các nhà mỹ học trước Mác về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp.

1.3. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp

Khác với ba khuynh hướng trên và tiếp thu một số thành tựu cơ bản của ba khuynh hướng trên, trong quá tŕnh đi t́m bí mật của lịch sử, xây dựng hệ thống lư luận về giá trị, C.Mác và Ph.Ăngghen đă tiếp cận cái đẹp từ lao động, từ bản chất xă hội, từ quan hệ giá trị.

1.3.1. Cái đẹp ra đời từ lao động

C.Mác và Ph.Ăngghen đă coi hoạt động lao động, đấu tranh, sáng tạo là thực tiễn cơ bản của con người. Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người.

Điều này được thể hiện qua việc biết sáng tạo và hoàn thiện công cụ lao động. Trong hoạt động lao động con người đă làm đẹp thêm những sản phẩm do ḿnh tạo ra. Lúc đầu các sản phẩm đó chỉ mang các giá trị thực dụng, nhưng khi đă có công cụ lao động, con người không muốn các sản phẩm kia chỉ đơn thuần sử dụng được mà c̣n phải phù hợp với sở thích và đem lại niềm vui sướng cho con người mỗi khi ngắm nh́n. Xuất phát từ mong muốn đó mà các sản phẩm của con người ngày càng hoàn thiện và đẹp hơn, đáp ứng với nhu cầu thẩm mỹ của con người.

Lao động đă tạo nên đối tượng thẩm mỹ cho chủ thể thẩm mỹ và lao động cũng tạo nên chủ thể thẩm mỹ cho đối tượng thẩm mỹ.

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, giới tự nhiên không hề cung cấp sẵn các thuộc tính thẩm mỹ cho chủ thể thẩm mỹ, nó đă được lao động phát hiện và sáng tạo nên. Khách thể trở thành đối tượng thẩm mỹ của chủ thể được quyết định từ hoạt động thực tiễn giữa chủ thể và khách thể thẩm mỹ. Chủ thể thẩm mỹ cũng không phải là chủ thể có sẵn mà chỉ được h́nh thành và phát triển trong lao động. Chủ thể đó phải dược rèn luyện, giáo dục, đào tạo theo các thước đo của thực tiễn lịch sử - xă hội.

Con người trong quá tŕnh cải tạo tự nhiên, xây dựng xă hội đă "phát triển những năng khiếu tiềm tàng trong bản thân ḿnh", đă biến con người từ chủ thể thực dụng thành chủ thể thẩm mỹ.

Trong quá tŕnh lao động, trong quá tŕnh tác động giữa đối tượng và chủ thể  nghệ thuật ra đời. Nghệ thuật xuất hiện vừa biểu hiện nhu cầu cao quư của con người trong lao động vừa đánh dấu bước nhảy vọt lớn của lao động thành thạo. Nghệ thuật là nơi tập trung của cái đẹp và cái đẹp trong nghệ thuật không chỉ là sự phản ánh cái đẹp trong hiện thực mà c̣n gắn với cái đẹp của tư tưởng, t́nh cảm, khát vọng của con người.

1.3.2. Cái đẹp là một giá trị

Trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, cái đẹp không thể tách rời thực tiễn xă hội - lịch sử đặc biệt là thực tiễn thẩm mỹ của chủ thể. các giá trị thẩm mỹ không phải là các thuộc tính sẵn có của tự nhiên và xă hội, nó phải được lao động phát hiện và sáng tạo nên. Lao động đó tuy là lao động của cá nhân nhưng được đo bằng thước đo chung của xă hội. Lao động như vậy vừa là nguồn gốc, vừa là thước đo mọi giá trị trong đó có giá trị thẩm mỹ.

Trước khi con người xuất hiện, tự nhiên đă từng tồn tại và các thuộc tính của tự nhiên cũng không v́ có con người hay không có con người mà mất đi, nhưng chúng chưa mang các giá trị thẩm mỹ. Chỉ có thông qua quá tŕnh tác động cải tạo tự nhiên, cải tạo xă hội, cải tạo bản thân ḿnh, con người mới dần dần phát hiện ra các giá trị của tự nhiên trong đó có giá trị thẩm mỹ mà biểu hiện tập trung nhất là cái đẹp.

C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định, cái đẹp không phải là cái vốn có trong thiên nhiên thuần tuư, cũng không phải là cái được nhận thức một cách tuỳ tiện do cảm giác chủ quan của cá nhân. Cái đẹp là một phạm trù giá trị. Nó xuất hiện và không ngừng phát triển từ trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu của xă hội, con người.

Có thể nói rằng, trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen cái đẹp ra đời, tồn tại và phát triển trong lao động sản xuất, chinh phục tự nhiên, đấu tranh giai cấp và cải tạo xă hội. Bản chất của cái đẹp là do những quan hệ xă hội quy định. Nhưng bản chất của cái đẹp không phải sinh thành bất biến mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển cùng với sự vận động, biến đổi và phát triển của cuộc sống đặc biệt là của các quan hệ thẩm mỹ. Trong học thuyết giá trị của Mác, Mác cho rằng cái đẹp phải có các thước đo xă hội. Học thuyết giá trị là cơ sở quan trọng nhất không chỉ để chứng minh nguồn gốc và bản chất của cái đẹp mà c̣n làm sáng tỏ ư nghĩa quan trọng của tính sự vận động lịch sử của cái đẹp trong đời sống xă hội.

1.3.3. Cái đẹp mang tính xă hội

Trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, những sự biến thiên của lịch sử và xă hội luôn kéo theo những biến thiên của mọi quan hệ xă hội kể cả quan hệ thẩm mỹ. Do đó cái đẹp cũng có số phận thăng trầm cùng với những sự đổi thay của xă hội. Với việc phát hiện ra lao động là nguồn gốc của cái đẹp, Mác c̣n phát hiện ra bản chất xă hội của cái đẹp. Bản chất này không chỉ đơn thuần gắn với lao động mà c̣n gắn với các quá tŕnh lịch sử xă hội với những thước đo khác nhau của dân tộc, giai cấp, thời đại...

C.Mác và Ph.Ăngghen khi phân tích các xă hội tiền tư bản, xă hội tư bản và sau tư bản đă coi cái đẹp tồn tại khách quan như một thuộc tính xă hội trong các công tŕnh sáng tạo của bàn tay con người, trong sản phẩm lao động, trong thiên nhiên đă được con người cải tạo và chinh phục. Các ông đă tŕnh bày năng lực thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp là năng lực đặc biệt của con người trong các điều kiện xă hội khác nhau. Năng lực đó xuất hiện trong lịch sử xă hội của loài người và nó đă đồng hành cùng với phương thức sản xuất.

Tuy nhiên khi nói đến thuộc tính khách quan xă hội của cái đẹp không thể không nói đến quá tŕnh vận động và phát triển của nó. Cùng với sự thay đổi và phát triển của cuộc sống xă hội, các sự vật, hiện tượng cũng thay đổi và phát triển theo. Cái đẹp cũng v́ thế cũng vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan.

Khi sự vật, hiện tượng tự nhiên và xă hội đă phát triển đến độ hoàn thiện th́ ở đây cái đẹp sẽ đi liền với cái chân và cái thiện. Tính hoàn thiện trong mối quan hệ chân - thiện - mỹ cũng là một tiêu chuẩn để xác định thế nào là đẹp. Các sự vật được coi là đẹp khi trong bản thân chúng chứa đựng cái thật, cái tốt. V́ thế học thuyết giá trị của C.Mác bao quát cả bộ giá trị phổ quát chân - thiện - mỹ trong tính khách quan xă hội của cái đẹp.

 


 

Chương 2

 TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN VỀ  SỰ VẬN ĐỘNG

CỦA CÁI ĐẸP TRONG ĐỜI SỐNG XĂ HỘI

2.1. Tư tưởng của các nhà mỹ học trước Mác về sự vận động của cái đẹp

Theo Kant, phương thức vận động chủ yếu để tiếp cận cái đẹp đó là thị hiếu. Cái đẹp vận động do sự vận động của năng lực phán đoán thị hiếu, tức là phán đoán phản tư, phán đoán ấy nhờ vào trí tuệ, dựa vào mối quan hệ giữa thị hiếu vô tư, không vụ lợi với cái thiện luân lư nên nó chuyển sang nhiều h́nh thái khác nhau. Do sự vận động của phán đoán thị hiếu mà từ cái đẹp vô tư chuyển sang cái đẹp số lượng, cái đẹp chất lượng, cái đẹp tương quan, cái đẹp phương thức. Cùng với sự vận động của phán đoán thị hiếu tạo nên ba cái đẹp của nghệ thuật. Thứ nhất, năng lực ấy gắn liền với những h́nh thức của tự nhiên tạo nên cái đẹp nghệ thuật thấp; thứ 2, gắn với lao động tạo nên cái đẹp của nghệ thuật thủ công, nghệ thuật kiếm tiền; cuối cùng nghệ thuật gắn với tṛ chơi là cái đẹp cao nhất. Tức là ở đây Kant lại trở về với cái đẹp vô tư.

Sự vận động của cái đẹp trong tư tưởng của Kant xuất phát từ cái đẹp vô tư đến nghệ thuật tṛ chơi.

Trong Mỹ học của ḿnh, Hêghen đă nghiên cứu sự vận động của cái đẹp bắt nguồn từ sự vận động của ư niệm. Hêghen đă tập trung nghiên cứu sự vận động của cái đẹp trong lĩnh vực nghệ thuật. Ông cho rằng, ư niệm tự khẳng định và biểu hiện trong sự vận động thực tại lịch sử thông qua các h́nh thái nghệ thuật mà tạo nên những cái đẹp khác nhau. Sự vận động đầu tiên của ư niệm tự khẳng định trong nghệ thuật tượng trưng, ở đây tạo ra h́nh thức của cái đẹp trong đó ư niệm không đạt được một tŕnh độ đồng nhất hóa hoàn toàn mà chỉ đạt được một tiếng vọng. Tiếng vọng này biểu hiện cái đẹp chưa lấp đầy nội dung ư niệm.

Hêghen cho rằng: ư niệm vận động đă chia lịch sử thành ba giai đoạn, giai đoạn trong xă hội phương Đông cổ đại th́ sản sinh ra cái đẹp của kiến trúc. Ư niệm vận động trong xă hội Hy Lạp th́ sản sinh ra cái đẹp điêu khắc. Ư niệm vận động trong thời kỳ trung cổ và nước Đức th́ sẽ tạo ra cái đẹp của âm nhạc, hội hoạ, thơ ca. Cái đẹp của kiến trúc th́ h́nh thức không bao chứa được nội dung. Cái đẹp của điêu khắc th́ thống nhất giữa nội dung và h́nh thức. Cái đẹp của âm nhạc, hội hoạ, thơ ca th́ nội dung vượt h́nh thức.

Theo Tsécnưsépxki th́ sự vận động của cái đẹp không thể bắt đầu từ ư niệm được mà phải bắt đầu từ cuộc sống. Trong tác phẩm Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực, ông đă nêu lên một quan niệm rất nổi tiếng: Cái đẹp là cuộc sống. Sự vận động của cái đẹp, các h́nh thức phong phú của cái đẹp đều bắt nguồn từ cuộc sống.

2.2. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự vận động của cái đẹp trong các xă hội tiền tư bản

C.Mác và Ph.Ăngghen đă nghiên cứu sự vận động của cái đẹp từ lao động và sự vận động của các phương thức sản xuất. Theo đó, C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu sự vận động của cái đẹp gắn bó mật thiết với lao động, các ông đă chú ư đến các h́nh thức phân công lao động, các chế độ xă hội. Trong quá tŕnh t́m kiếm bí mật của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đă phát hiện tiến tŕnh lịch sử được kế tiếp bởi ba thời kỳ: tiền tư bản, tư bản và sau tư bản. Thời kỳ tiền tư bản bao gồm các xă hội phương Đông cổ đại, xă hội nô lệ và xă hội phong kiến. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra một số đặc điểm của cái đẹp trong các xă hội tiền tư bản 1. Cái đẹp được sáng tạo trong những điều kiện của lao động tự do nhất định.

2. Các sản phẩm đẹp, các hoạt động thẩm mỹ gắn với nghề thủ công

3. Sự vận động của cái đẹp gắn bó mật thiết với cái thực dụng

4. Cái đẹp và cái thiện, đạo đức và thẩm mỹ có mối liên hệ hữu cơ

5. Sự phát triển của cái đẹp gắn với các hoạt động tâm linh

6. Cái đẹp thường mang tính cục bộ về không gian trong các địa phương, các gia tộc, bộ tộc và địa vực.

7. Cái đẹp thường lặp lại do tính lặp lại của lao động giản đơn tạo nên

8. Cái đẹp thường mang tính cộng đồng, chưa có bản nguyên cá nhân

9. Cái đẹp thường gắn bó máu thịt với tự nhiên cả về nội dung, phương thức và phương tiện.

2.3. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự vận động của cái đẹp trong xă hội tư bản

 C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, với lực lượng sản xuất hùng mạnh của nó, giai cấp tư sản đă tạo ra rất nhiều cái đẹp mới cho nhân loại. Sự tiến bộ và phát triển của sản xuất cái đẹp nghệ thuật dưới chủ nghĩa tư bản, được biểu biện chủ yếu ở tính chất tiến bộ của chủ nghĩa tư bản thay thế chủ nghĩa phong kiến đă thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật, nhất là buổi đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản đă làm cho nghệ thuật phát triển đạt đến tŕnh độ tương đối phồn thịnh trong xă hội tư bản chủ nghĩa, xuất hiện một số tác giả và tác phẩm vĩ đại nhất định.

Tuy nhiên, khi xây dựng học thuyết giá trị, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy, trong xă hội tư bản, ḷng ham muốn giá trị thặng dư là cái đẹp cao nhất, là niềm vui và ư nghĩa của cuộc sống. Giá trị thặng dư là thẩm mỹ, là là đạo đức của nhà tư bản. Tiền là thước đo giá trị duy nhất. Và giá trị thẩm mỹ đă biến thành giá trị thực dụng. C.Mác nói rằng sản xuất tư bản chủ nghĩa thù địch với nghệ thuật và thi ca, bởi v́ sản xuất ấy đă làm đảo lộn tận gốc rễ nghệ thuật và thơ ca là cái đẹp; bởi v́ quy luật sản xuất tư bản chủ nghĩa có xu hướng bắt các hoạt động sáng tạo cái đẹp phải trở thành hàng hoá, biến lao động sáng tạo của nghệ sĩ thành lao động trừu tượng. Các giá trị thẩm mỹ thực sự có giá trị không thể đo bằng giá trị thời gian lao động xă hội cần thiết. Quan hệ hàng hoá tư bản chủ nghĩa, biến tất cả và toàn bộ cái đẹp thành giá trị trao đổi là thù địch sâu sắc với bản chất thẩm mỹ của cái đẹp.

2.4. C.Mác và Ph.Ăngghen bàn về sự vận động của cái đẹp trong xă hội sau chủ nghĩa tư bản

Trong khi xây dựng học thuyết về xă hội chủ nghĩa và xă hội cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đă đề xuất cơ sở khoa học giải quyết mâu thuẫn đối kháng giữa sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa với các giá trị nhân văn, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ cao đẹp bằng cách thủ tiêu ách áp bức bóc lột của con người đối với con người theo kiểu tư bản chủ nghĩa. Các ông cho rằng, cuộc cách mạng xă hội chủ nghĩa sẽ chấm dứt t́nh trạng phân thân giữa thể xác và tinh thần, giữa lao động và cái đẹp mở ra cơ sở của sự chiếm lĩnh bản chất con người bởi con người và cho con người. Đó là một cuộc cách mạng mang giá trị của con người trả lại cho con người. Cuộc cách mạng ấy thống nhất cái đúng, cái tốt, cái đẹp của cá nhân con người với xă hội của con người. Cuộc cách mạng ấy sẽ thủ tiêu t́nh trạng thù địch của sản xuất vật chất với sự phát triển thẩm mỹ của con người và của cả nghệ thuật. Chỉ có thể cứu được cái đẹp nghệ thuật ra khỏi những tù túng và mất tự do bằng cuộc cách mạng vô sản.

Coi lao động là nguồn gốc, là bản chất của cái đẹp, C.Mác và Ph.Ăngghen đă nghiên cứu một xă hội mang cái đẹp trở về với bản thân ḿnh bằng cách thỏa măn nhu cầu sáng tạo vô hạn độ của người lao động. Trong chủ nghĩa xă hội và chủ nghĩa cộng sản, lao động có ích, lao động tự do phải trở thành nhu cầu hàng đầu của mọi thành viên trong xă hội. Cái xă hội mà theo C.Mác, ai mang trong ḿnh một Raphaen đều có thể tự do phát triển.

 

Chương 3

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ CÁI ĐẸP CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN PHÂN TÍCH CÁI ĐẸP TRONG ĐỜI SỐNG VÀ MỸ HỌC Ở VIỆT NAM

3.1. Giới hạn phạm vi phân tích các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen vào đời sống và mỹ học Việt Nam

Các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen đă được nhiều nhà mỹ học mácxít ở các thế hệ trước nghiên cứu và phát triển sâu sắc trong quá tŕnh xây dựng và phát triển nền văn hoá mới Việt Nam. Các tư tưởng về nguồn gốc lao động, bản chất xă hội của cái đẹp; cái đẹp là một giá trị; cái đẹp gắn với cái đúng, cái tốt, cái có ích; cái đẹp gắn với cái hài hoà, gắn với các giác quan thẩm mỹ … được nhiều công tŕnh mỹ học ở Việt Nam phân tích và tŕnh bày. Cái đẹp gắn với các b́nh diện khác về nghệ thuật của C.Mác và Ph.Ăngghen cũng được nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật Việt Nam khai thác.

Vận dụng các tư tưởng mỹ học của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong đời sống và trong mỹ học ở Việt Nam, luận án tự đặt cho ḿnh hai nhiệm vụ: một là, dưới ánh sáng của các tư tưởng mỹ học của C.Mác và Ph.Ăngghen, luận án sẽ làm sáng tỏ nguồn gốc và bản chất của cái đẹp trong các xă hội được C.Mác và Ph.Ăngghen gọi là tiền tư bản ở Việt Nam, và xă hội thuộc địa nửa phong kiến trước cách mạng tháng Tám; hai là, phân tích sự vận dụng các tư tưởng của chính C.Mác và Ph.Ăngghen trong đời sống và trong mỹ học ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám. Với hai nhiệm vụ ấy, luận án cố gắng làm rơ sức sống các tư tưởng mỹ học của C.Mác và Ph.Ăngghen ở Việt Nam trong thời điểm đặc biệt này.

3.2. Vận dụng các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong xă hội và trong mỹ học ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám

3.2.1. Cái đẹp trong các xă hội truyền thống ở Việt Nam

Trong các xă hội truyền thống ở Việt Nam mà theo ngôn ngữ của C.Mác và Ph.Ăngghen đă dùng là: các xă hội tiền tư bản ở Việt Nam. Các xă hội này đă từng tạo ra được nhiều cái đẹp và nhân dân rất quan tâm. Xă hội cổ truyền Việt Nam có nhiều nét đặc thù so với các xă hội tiền tư bản trong các vùng địa lư và tổ chức xă hội ở phương Tây.

Theo nhận xét của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các xă hội tiền tư bản cái đẹp đă xuất hiện từ lao động tự do, đặc biệt là từ những nghề thủ công. Lịch sử phát triển nghề thủ công ở Việt Nam gắn liền với lao động tự do, lao động nông nhàn như C.Mác và Ph.Ăngghen đă nhận xét. Các nghề thủ công ở Việt Nam khác với các nghề thủ công mà C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu ở phương Tây. Nghề thủ công ở Việt Nam gắn bó chặt chẽ với sản xuất lúa nước.

Mối quan hệ giữa giá trị thẩm mỹ và giá trị thực dụng hay theo cách nói của C.Mác và Ph.Ăngghen cái đẹp gắn với cái thực dụng- là cái đẹp phổ biến trong các xă hội tiền tư bản ở Việt Nam.

Giá trị sử dụng xuất hiện rất sớm ở Việt Nam. Người Việt gắn bó giá trị thẩm mỹ với giá trị sử dụng rất sớm. Trong quan hệ giữa giá trị thực dụng với giá trị thẩm mỹ th́ người Việt ưu tiên cho giá trị thực dụng. Yêu thích sự kết hợp giữa giá trị sử dụng với giá trị thẩm mỹ là hiện tượng phổ biến trong văn hóa cổ truyền ở Việt Nam.

Cảm quan thẩm mỹ trong nền văn hóa cổ truyền của người Việt ngoài gắn bó mật thiết với các giá trị sử dụng c̣n gắn bó mật thiết với các giá trị đạo đức.

Thực tiễn phát triển cái đẹp ở Việt Nam c̣n hoàn toàn đồng nhất với quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về những tính chất huyền thoại trong cái đẹp ở các xă hội tiền tư bản.

C.Mác và Ph.Ăngghen đă từng nhận xét, trong các xă hội tiền tư bản, do tính chất lặp lại, tính chất địa phương của sản xuất mà cái đẹp thường có tính địa phương, gắn bó với mỹ cảm từng vùng, gắn bó với phong tục tập quán của từng khu vực dân cư.  Cáiđẹp gắn với các hiện tượng tự nhiên. Điều đó hoàn toàn đúng với sự phát triển của cái đẹp trong các xă hội cổ truyền ở Việt Nam.

3.2.2. Cái đẹp từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945 ở Việt Nam

Sau khi chủ nghĩa thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, sau phong trào Cần Vương là phong trào Duy Tân mở đầu cho những quan niệm mới về cái đẹp. Các quan niệm này đă thể hiện thành những quan niệm lư luận được đăng tải trên các báo chí công khai trong xă hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam.

Giai cấp tư sản ở Việt Nam từ thời Duy tân đến cách mạng tháng Tám đă nêu cao tự do sáng tạo cá nhân, đă chống lại những lễ giáo hà khắc của giai cấp phong kiến. Giai cấp tư sản ở Việt Nam đă tạo ra những cái đẹp của áng thơ văn mang khát vọng giải phóng cá nhân và chống lại sự tù túng của gia đ́nh phong kiến.

Ở Việt Nam, mỹ cảm của người công nhân, người nông dân đă hướng vào cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đ̣i giảm giờ làm việc, giảm nhẹ địa tô, sưu thuế. Nhiều bài thơ, lời ca chống áp bức, bóc lột đă ra đời. Cùng với những bài thơ, lời ca ca ngợi các chiến sĩ cách mạng trong các nhà tù của chủ nghĩa thực dân, các bài thơ, lời ca chống áp bức, bóc lột… đă trở thành một ḍng văn thơ cách mạng ca ngợi những chiến công, những cái đẹp cao cả của nhân dân. Trong đời sống xă hội Việt Nam từ đầu thế kỷ đă xuất hiện rất nhiều cái đẹp kiểu mới. Có lẽ cái đẹp này chưa được C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích đầy đủ trong khi phân tích lao động bị tha hóa trong lĩnh vực công nghiệp ở phương Tây.

Cùng với cái đẹp giải tha hóa trong quá tŕnh bị áp bức, bóc lột, trong xă hội thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đă tồn tại ba khuynh hướng, ba quan niệm khác nhau về cái đẹp. Một là quan niệm tân kỳ của những khuynh hướng khai hoá, khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật,  khuynh hướng này gắn cái đẹp với t́nh cảm chủ quan của con người. Hai là khuynh hướng hiện thực, khuynh hướng này gắn cái đẹp với đời sống thực tế của dân tộc Việt Nam lúc đó, nhưng nó chưa t́m được hướng phát triển cái đẹp theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội. Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen vào hoàn cảnh thực tiễn ở Việt Nam và đề xuất những nguyên tắc phát triển các tư tưởng ấy theo hướng dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa.

3.3. Vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong cuộc sống và trong mỹ học ở nước ta sau Cách mạng tháng Tám

3.3.1. Vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong cuộc sống và trong mỹ học ở nước ta trước thời kỳ đổi mới

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cái mốc thay đổi lớn nhất trong xă hội Việt Nam hiện đại. Nó tạo những tiền đề lớn nhất để h́nh thành một kiểu nhân cách mới và những giá trị thẩm mỹ mới cho cuộc sống.

Từ năm 1945 đến năm 1985, việc vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thực tiễn và mỹ học ở nước ta trong 40 năm ấy đă trải qua hai thời kỳ: 1- Thời kỳ gắn cái đẹp với các quá tŕnh dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; 2- Thời kỳ gắn cái đẹp với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa có nội dung xă hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Cả hai thời kỳ này đă làm xuất hiện từ trong ḷng sâu của xă hội, trong tâm hồn và thế giới quan của những người hoạt động cái đẹp, cho cái đẹp của dân tộc, của đất nước một nhận thức sâu sắc rằng: Chính lao động là nguồn gốc chân chính của cái đẹp; giải phóng lao động, phát triển tự do của con người là phương hướng xây dựng cái đẹp mới ở Việt Nam. Nhận thức ấy đă đi vào cuộc sống, đi vào sáng tạo văn nghệ, đi vào giáo dục làm nảy nở rất nhiều cái đẹp chưa từng xuất hiện trước đó trong xă hội ta.

Tuy nhiên, các quan niệm thẩm mỹ của C.Mác và Ph.Ăngghen được vận dụng vào xă hội ta trong một nền văn hóa đặc biệt và vào những thời điểm rất đặc biệt. Lư tưởng về cái đẹp mà Đảng vận dụng vào xă hội Việt Nam không phải là xă hội công nghiệp mà là xă hội nông nghiệp.

Vào những năm 60-70 của thế kỷ XX, chúng ta nhận thấy một cao trào sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật diễn ra sôi nổi và rộng khắp. Nhưng cùng với cao trào này, từ ḷng sâu của nó xuất hiện những tư tưởng chủ quan, hănh tiến và nóng vội. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc những năm 60-70 của thế kỷ XX tiếp tục cho ta thấy những cơ sở quan trọng của cái đẹp như cái đúng, cái tốt đă bị vi phạm nghiêm trọng. Chế độ hành chính quan liêu bao cấp đă đưa đất nước đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng về kinh tế, xă hội, lối sống; do đó tạo nên sự vô chuẩn về mặt đạo đức và thẩm mỹ. Nhiều giá trị tốt đẹp không được phổ biến, không ít cái đẹp nhân bản trong nghệ thuật bị cấm đoán. Năng suất lao động thấp, ư thức lao động lỏng lẻo, tinh thần dân chủ không được tôn trọng, mức sống thấp và rất khó khăn, chất lượng sống giảm sút, đạo đức giả xuất hiện ở khắp nơi, các chuẩn mực của cái đẹp về sự hài ḥa bị vi phạm, một số cái đẹp đă bị biến chất.

Vận dụng những tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong cuộc sống và trong mỹ học lúc này, chúng ta thấy rơ năng lực quản lư đất nước của chúng ta c̣n ít kinh nghiệm, việc hiểu biết sâu sắc và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác c̣n hạn chế. Điểm trung tâm mà chúng ta nh́n rơ là quan điểm giai cấp đă lấn át quan điểm dân tộc làm cho nhiều khả năng lao động không được phát huy, đất nước rơi vào t́nh trạng vô chuẩn, b́nh quân, quan liêu, cửa quyền bế tắc. T́nh h́nh ấy đă đưa chúng ta đến việc phải đổi mới.

3.3.2. Vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong cuộc sống và mỹ học trong thời kỳ đổi mới ở nước ta

Khi vận dụng những nguyên lư của C.Mác và Ph.Ăngghen trước thời kỳ đổi mới, chúng ta đă không chú ư thích đáng đến những chỉ dẫn đặc biệt quan trọng của C.Mác và Ph.Ăngghen. Có thể có vấn đề chúng ta đă chú ư đến những chỉ dẫn đó, nhưng các giải pháp thực tế đưa ra thiếu sức sống trong một cơ chế quan liêu bao cấp đă làm suy giảm các năng lực lao động tiềm tàng trong xă hội, do đó cản trở việc xuất hiện những cái đẹp mới.

Trong thực tiễn xây dựng quan hệ thẩm mỹ từ những năm 1954 đến trước năm 1986, chúng ta đă chịu sức ép sai lệch của nhiều quan niệm mỹ học nhân danh chủ nghĩa Mác chống lại mỹ học phong kiến và mỹ học tư sản. Suốt một thời kỳ dài, các tác phẩm của giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản, thậm chí cả những tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực phê phán và nhiều tác phẩm mỹ học có giá trị của nhân loại đă không được tái bản, nhân danh quan điểm giai cấp đoạn tuyệt với cái đẹp truyền thống. Cũng trong thời gian ấy, một số tác phẩm tô hồng cuộc sống, lam lũ hóa cuộc sống, lao động cực nhọc hóa cuộc sống đă được một số nhà lư luận tôn vinh là cái đẹp của chủ nghĩa xă hội. Nếu cuốn phim nào, tác phẩm nào thiếu nội dung lao động tập thể, thiếu công nhân quai búa, thiếu nông dân cầm cày đều không được đánh giá tốt về mặt thẩm mỹ.

Trước t́nh h́nh thực tiễn và trong các quan niệm lư luận mỹ học như vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đă kịp thời chấn chỉnh và t́m nguyên nhân của những xa xút về sản xuất và những lệch lạc về tư tưởng, lư luận. V́ thế, Đảng ta đă đề xuất việc xây dựng những cái đẹp mới mang nội dung tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là mục tiêu tổng quát h́nh thành cái đẹp trong thực tiễn và trong mỹ học ở thời kỳ đổi mới hiện nay.

Có thể nói, trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự vận dụng nhiều hơn, sâu hơn và rộng hơn các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào đời sống, th́ về mặt lư luận nhiều nhà mỹ học đă làm rơ hơn tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về nguồn gốc, bản chất và vị trí của cái đẹp trong đời sống và trong nghệ thuật. Cái đẹp trong xă hội ta đă ra đời và phát triển cùng với các quá tŕnh lao động sáng tạo và đấu tranh giữ nước hàng ngh́n năm của nhân dân ta. Cái đẹp ấy đă trải qua nhiều thời đại và được vận động trong thời dựng nước đầu tiên đến hôm nay đă song hành cùng với quá tŕnh phát triển của văn hóa Việt Nam. Trong thời kỳ hiện đại, cái đẹp đă vận động cùng với nền văn hóa của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xă hội trải qua cơ chế thị trường đang hướng tới một xă hội mới. Sự vận động của cái đẹp thời hiện đại đă trải qua các định chuẩn: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa; nội dung xă hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc và đến nay là định chuẩn của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong quá tŕnh vận động xă hội ấy, thực tiễn lao động và chiến đấu của nhân dân ta không chỉ được các nhà nghiên cứu mỹ học khái quát theo các tư tưởng mỹ học cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen mà c̣n góp phần định hướng cái đẹp theo lư tưởng cộng sản; giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xă hội nhằm kiến tạo một xă hội Việt Nam đẹp nhất, với những con người đẹp nhất và một nền nghệ thuật đẹp nhất.

 


 

KẾT LUẬN

1. Cái đẹp là một bí mật thật sự của cuộc sống. Trước C.Mác và Ph.Ăngghen, nhiều nhà triết học đă công phu t́m hiểu những bí mật ấy. Có thể nói, có ba khuynh hướng chính tiếp cận với nguồn gốc và bản chất của cái đẹp. Đó là khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan và khuynh hướng của chủ nghĩa duy vật. Cả ba khuynh hướng tiếp cận này, tuy có những ưu điểm khác nhau nhưng nh́n chung, chúng có những nhược điểm coi cái đẹp là cái vốn có của ư niệm, của t́nh cảm cá nhân, của tự nhiên và của bản thân cuộc sống. Khi nghiên cứu bí mật của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đă phát hiện ra lao động và quá tŕnh xă hội hóa lao động là nguồn gốc của mọi của cải trong đó cái đẹp như một giá trị thẩm mỹ của nhân loại. Bằng quan điểm lao động, quan điểm thực tiễn kết hợp với những phát hiện mới về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về giá trị và giá trị thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đă t́m ra nguồn gốc lao động bản chất xă hội cũng như giá trị thực sự của cái đẹp. Lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học nhân loại, những bí ẩn sâu kín của cái đẹp đă được C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện từ quan điểm duy vật về lịch sử và các nguyên lư cơ bản của học thuyết giá trị.

2. Trên cơ sở quan điểm h́nh thái kinh tế xă hội, với phương pháp lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đă nh́n thấy sự vận động lịch sử của cái đẹp trong các xă hội tiền tư bản, tư bản và những tiên đoán của hai ông về cái đẹp của xă hội sau xă hội tư bản. Khác hoàn toàn với ba khuynh hướng nghiên cứu bí mật sự vận động của cái đẹp từ các phán đoán thị hiếu, ư niệm tuyệt đối và tính khách quan của các hiện tượng; C.Mác và Ph.Ăngghen nh́n thấy sự vận động của cái đẹp gắn liền với quá tŕnh phát triển của xă hội theo ba giai đoạn: xă hội tiền tư bản, xă hội tư bản và xă hội  sau xă hội tư bản. Từ đó C.Mác và Ph.Ăngghen đă phát hiện ba tính chất khác nhau của cái đẹp có mối liên hệ bản chất với nhau thông qua lao động thủ công, lao động cưỡng bức và lao động được giải phóng. Đó là cái đẹp gắn với cái có ích, cái đạo đức, gắn với tự nhiên, gắn với bản chất của mỗi xă hội sản sinh ra nó. Đây là cái đẹp gắn với quá tŕnh vận động của các giai đoạn xă hội hóa lao động và sự phát triển tự do của con người. Mỗi nấc thang của sự phát triển cái đẹp đều gắn với quá tŕnh giải phóng lao động và phát triển tự do của con người trong sự phát triển tự do của xă hội.

Từ quan điểm h́nh thái kinh tế xă hội kết hợp sâu sắc với những nguyên lư về sự bóc lột giá trị thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen đă nhận thấy cái đẹp bị tha hóa sâu sắc khi lao động bị bóc lột tàn nhẫn và tự do của con người bị ḱm trói một cách nghiệt ngă trong cơ chế xă hội có áp bức bóc lột. C.Mác và Ph.Ăngghen đă nh́n thấy cái đẹp được phát triển, được vận động đến hoàn thiện khi lao động từ tính tất yếu bên ngoài thành tính tất yếu bên trong của con người. Niềm vui, khát vọng giải phóng và sự phát triển tự do của con người sẽ là nguồn gốc của cái đẹp chân chính. Cái đẹp đó sẽ xuất hiện trong xă hội xă hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa v́ ở đó con người sẽ được phát triển tự do đầy đủ và xă hội cũng phát triển tự do hoàn toàn. Nó sẽ tạo ra vô vàn cái đẹp phong phú cho nhân loại.

3. Vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích cái đẹp trong cuộc sống và trong mỹ học ở nước ta, chúng ta thấy trong các xă hội tiền tư bản, ta thường gọi là các xă hội truyền thống, cái đẹp được xuất phát từ cái thực dụng và cái đạo đức. Chính cái thực dụng và cái đạo đức đă là cơ sở của sự phát triển lành mạnh của cái đẹp trong các xă hội Việt Nam truyền thống. Các cái đẹp ấy gắn bó mật thiết với tự nhiên, với cái có ích, với sự tiện dụng, với cái tốt. Và chính trong các xă hội truyền thống này, cái đẹp c̣n mang tính cộng đồng sâu sắc.

Theo quan điểm về h́nh thái kinh tế xă hội của C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đă mang đến cái đẹp tính giai cấp của nó. Vận dụng các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, nghiên cứu cái đẹp theo hệ tư tưởng Nho giáo và hệ tư tưởng tư sản, chúng ta phát hiện sự khác nhau về quan niệm cũng như sự sáng tạo cái đẹp của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản. Cái đẹp khuôn mẫu, cái đẹp đạo đức, cái đẹp quy phạm của giai cấp phong kiến ở Việt Nam là khác với cái đẹp tự do cá nhân, cái đẹp lăng mạn của giai cấp tư sản. Hệ tư tưởng tư sản được truyền bá vào Việt Nam qua cuộc xâm lăng của chủ nghĩa thực dân Pháp. Hệ tư tưởng đó đă cổ vũ cho những quan điểm, những cái đẹp gắn với sự giao lưu với chủ nghĩa lăng mạn nghệ thuật và quan điểm mỹ học tư sản quốc tế.

Chủ nghĩa Mác được truyền vào Việt Nam qua Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người cộng sản, Đảng Cộng sản. Các quan điểm mỹ học và tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen trở thành hệ quy chiếu trong lư luận và trong thực tiễn phát triển cái đẹp ở Việt Nam từ năm 1930 đến nay. Từ đó đến nay, các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen đă vận động qua cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; cuộc cách mạng xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc đấu tranh thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới đất nước. Các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen được vận dụng vào phân tích lư luận và phát triển cái đẹp ở Việt Nam qua ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có những nguyên tắc khác nhau để phù hợp với thực tiễn cuộc sống ở Việt Nam. Giai đoạn thứ nhất, việc vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen theo nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa. Giai đoạn thứ hai của quá tŕnh vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen theo nguyên tắc nội dung xă hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Giai đoạn thứ ba từ sau năm 1986 đến nay, việc vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen theo nguyên tắc tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong sự phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa mà nội dung cơ bản của nó là dân tộc – hiện đại – nhân văn theo Hiến pháp năm 1992 ở Việt Nam.

Sự vận dụng các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen ở Việt Nam dù trải qua nhiều giai đoạn, vượt qua nhiều thử thách nhưng chân lư của những tư tưởng ấy vẫn soi sáng quá tŕnh nhân dân ta tiến từ độc lập dân tộc lên chủ nghĩa xă hội. Sức mạnh của những tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen là ở nội dung phát triển tự do của mỗi người trong sự phát triển tự do chung của xă hội. Nó là cơ sở lư luận vững chắc để chúng ta xây dựng cái đẹp mới trong quá tŕnh giải phóng lao động của mỗi cá nhân và cả xă hội. Nó cũng là động lực quan trọng để định hướng các cái đẹp phong phú và lành mạnh xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống mới của chúng ta.

 CÁC CÔNG TR̀NH CỦA TÁC GIẢ ĐĂ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

 

1.     Nguyễn Thu Nghĩa (2002), Quan niệm của C.Mác về “các quy luật của cái đẹp”, Tạp chí Triết học, số 12, tr.19-24.

2.     Nguyễn Thu Nghĩa (2003), Lao động – nguồn gốc của cái đẹp trong “Bản thảo kinh tế triết học năm 1844” của C.Mác, Tạp chí Triết học, số 10, tr.29-35.

3.     Nguyễn Thu Nghĩa (2004), Quan niệm của C.Mác về sự vận động lịch sử của cái đẹp trong một số h́nh thái kinh tế xă hội, Tạp chí Triết học, số 11, tr.16-21.

4.     Nguyễn Thu Nghĩa (2006), Vận dụng quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về cái đẹp vào việc xây dựng đời sống thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện.

5.     Nguyễn Thu Nghĩa (2007), Quan điểm của Đảng trong văn kiện đại hội X về xây dựng và phát triển văn hoá”, Bài tham gia hội thảo về Văn kiện đại hội Đảng lần thứ X do Tạp chí Triết học tổ chức tháng 7 năm 2007.

6.     Nguyễn Thu Nghĩa (2007), Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về cái đẹp với việc giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện.

7.     Nguyễn Thu Nghĩa (2008), Cái đẹp – từ tư tưởng của C.Mác đến thực tiễn Việt Nam. Bài tham gia hội thảo về C.Mác do Tạp chí Triết học tổ chức tháng 5 năm 2008.

8.     Nguyễn Thu Nghĩa (2009), Về sự vận dụng quan niệm của C.Mác về cái đẹp vào mỹ học và thực tiễn Việt Nam,  Tạp chí Lư luận Chính trị và Truyền thông, số 1, tr.27-30.