Vien triet hoc
 
International and domestic seminar
 
 
News
 
 
History of Philosophy Review
Newest Philosophy Review
Philosophy Review
Total list of Philosophy Review
Philosophy Review before 2007
Book Introduce
Celebrity Philosopher
Philosophy Review
 
 
History of Post-graduate Education
Educative Documents
Degine Education
Programs Education
List of Scientists
Result Education
Mission Education
 
 
List of themes
T
 
 

Visited: 514301
Online users: 7

 
 
Usename:
Password:
 
 

 
Lịch sử xây dựng và phát triển củaViện Triết học

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN TRIẾT HỌC 

Viện Triết học chính thức được thành lập năm 1962 theo Nghị định số 43 - CP ngày 04 tháng 04 năm 1962 của Chính phủ. Tiền thân của Viện là Tổ Triết học được thành lập vào tháng 8 năm 1959 thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Trong Nghị định số 43-CP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Khoa học Nhà nước, Viện Triết học chính thức có tên trong cơ cấu của Uỷ ban Khoa học Nhà nước. Sau khi tách ra khỏi Uỷ ban Khoa học Nhà nước vào năm 1967, Viện Triết học trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, sau đó là Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia và hiện nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Kể từ khi thành lập đến nay, nhờ sự cố gắng của các thế hệ cán bộ trong Viện, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ và tận tình tạo điều kiện của các cơ quan cấp trên, trực tiếp là Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Triết học đã không ngừng phát triển, trưởng thành về mọi mặt và có những đóng góp nhất định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trước đây, cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay.

Nhiệm vụ được đặt ra những năm đầu mới thành lập là tập hợp, đào tạo cán bộ và từng bước tiến hành những nghiên cứu cơ bản về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; vận dụng triết học để nghiên cứu những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; nghiên cứu về lịch sử tư tưởng và lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam; theo dõi triết học tư sản hiện đại và triết học trong vùng do Mỹ - Ngụy kiểm soát; nghiên cứu đạo đức học, mỹ học, triết học trong khoa học tự nhiên; theo dõi tình hình của triết học ở các nước xã hội chủ nghĩa, v. v..

Sau hai năm hoạt động, Tổ Triết học, sau đó là Bộ phận Triết học, đã tiến hành thu thập được một số tài liệu về những vấn đề triết học quan trọng, làm được một số báo cáo lý luận cho các cơ quan lãnh đạo, chuẩn bị một số bài viết và sách về triết học để in, giúp Nhà xuất bản Sự thật dịch một số tác phẩm kinh điển, một số sách và sách giáo khoa về triết học Mác - Lênin ra tiếng Việt làm tài liệu tham khảo; tham gia giảng dạy triết học và mỹ học cho một số cơ quan tại Hà Nội.

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đến cuối năm 1962, số cán bộ của Viện đã lên tới 44 người.

Nhờ tích cực học tập và nhất là do sự quan tâm đến công tác đào tạo của các đồng chí lãnh đạo cho nên đến năm 1964, hầu hết số người có mặt tại Viện đều đã đạt trình độ đại học ngành triết học hoặc tương đương nghiên cứu sinh. Thực sự đây là vốn quý của ngành triết học nước nhà.

Về mặt nghiên cứu, tuy đến năm 1963, số công trình được xuất bản chưa nhiều nhưng cũng đã có những cuốn sách được dư luận chú ý, chẳng hạn cuốn Đẹp của Vũ Khiêu, người có công đầu trong việc hình thành Viện Triết học sau này. Sau khi cuốn sách được xuất bản, một cuộc thảo luận sôi nổi trong cả nước đã diễn ra. Một số cuốn sách về triết học phổ thông cũng được xuất bản. Đó là các cuốn: Triết học là gì? Quan hệ giữa vật chất và ý thức; Bản chất thế giới là vật chất; Chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan hệ sản xuất; Thời đại mới, anh hùng mới; Thanh niên và vấn đề đạo đức; Vua thần nông và con trâu đất; v.v.. Nhiều bài nghiên cứu cũng đã được công bố trên các tạp chí khác nhau.

Bên cạnh việc viết sách, viết báo, các cán bộ trong Viện đã tham gia thảo luận sôi nổi về vấn đề lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; về cuộc đấu tranh giữa hai con đường và các tác phẩm văn học phản ánh nó; về vấn đề phản ánh cái xấu; về phương pháp nghệ thuật; về mối quan hệ giữa chân, thiện, mỹ; về nội dung và hình thức trong nghệ thuật; về lý tưởng thẩm mỹ; về con người mới; về các vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất đất nước; về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam (đồng chí Trường Chinh trực tiếp theo dõi cuộc thảo luận về đề tài này); về chiến tranh và hoà bình; về mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu của thời đại và của cách mạng Việt Nam; về phương thức sản xuất châu á; về mục đích, đối tượng, phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam; sự truyền bá triết học Mác vào Việt Nam; tiêu chuẩn đạo đức mới; về bản chất của chủ nghĩa duy linh - nhân vị; tính chất tôn giáo của các xu hướng triết học duy tâm hiện lưu hành ở miền Nam; v.v..

Đó là những thành công bước đầu, tạo dựng nền móng cho một cơ quan nghiên cứu. Bên cạnh đó, công tác đạo tạo cán bộ đã được Viện chú ý. Viện đã tiến hành công tác đào tạo cơ bản với quy mô lớn. Việc nhìn xa trông rộng của lãnh đạo về sự cần thiết phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao và mạnh dạn tổ chức các lớp học ở trong nước cũng như gửi đi nước ngoài đào tạo cần được ghi nhận.

Phương châm tích luỹ lâu dài, đóng góp kịp thời, gắn lý luận với thực tiễn được đưa ra lúc đó là phương châm đúng. Phương châm này đã được quán triệt vào nội dung các đề tài nghiên cứu, trong việc tìm hiểu thực tế, trong việc nêu ra các quan điểm và giải pháp, v.v.. Trong thực tế, việc thực hiện phương châm ấy có một số lệch lạc, nhưng chúng đã được uốn nắn, sửa chữa kịp thời.

Có được những thành công đó trước hết là nhờ những người lãnh đạo nhiệt tình, có tầm nhìn xa, biết tập hợp lực lượng, vạch được phương hướng nghiên cứu và phát triển cơ quan đúng về cơ bản trên một số lĩnh vực. Có được những thành công đó cũng phải kể đến công lao của tất cả những anh chị em cán bộ trong cơ quan ngày ấy. Họ đã không nề hà bất cứ việc gì, đã dành rất nhiều thì giờ cho những công việc sự vụ của một cơ quan mới bắt đầu được gây dựng. Cho dù sau này, cơ quan có phát triển đến đâu chăng nữa, cho dù vai trò xã hội của Viện có cao bao nhiêu chăng nữa thì cũng không thể nào quên được công lao của những người đã đặt nền móng cho Viện.

Từ tháng 6 năm 1964, khi triển khai Nghị quyết Trung ương lần thứ 9, đồng chí Phạm Như Cương được điều động về phụ trách và chính thức được bổ nhiệm làm Viện trưởng đầu tiên của Viện Triết học.

Từ lúc này trở đi, Viện được xác định là cơ quan nghiên cứu khoa học của Đảng, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin; nghiên cứu những nguyên lý của triết học mácxít, vận dụng vào nghiên cứu tình hình đất nước, góp phần vào việc xây dựng thế giới quan Mác - Lênin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; từ góc độ triết học, lấy việc thuyết minh đường lối của Đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin làm nhiệm vụ cơ bản.

Trong những năm từ 1964 đến 1975, Viện đã tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo khoa học lớn về các đề tài khác nhau. Số lượng các luận văn nghiên cứu ngày càng nhiều hơn, nhu cầu xã hội hoá kết quả nghiên cứu trở nên cấp bách, do vậy, năm 1966, tờ Thông báo Triết học, tiền thân của tờ Tạp chí Triết học ra đời. Đồng chí Trường Chinh đã gửi đăng bài "Những nhiệm vụ của anh chị em làm công tác nghiên cứu triết học ở nước ta hiện nay" trên số 1 của Thông báo.

Sự trưởng thành của các cán bộ trong Viện được đánh dấu bằng nhiều công trình lần lượt được xuất bản.

Những thành tựu ban đầu mà Viện có được gắn liền với  một giai đoạn cực kỳ khó khăn của đất nước. Đối với anh chị em trong toàn Viện thì đây là giai đoạn rất vất vả do cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt. Nhiều sinh hoạt của Viện giai đoạn 1964 đến 1975 đã diễn ra ở các nơi sơ tán. Các thế hệ cán bộ Viện Triết học không bao giờ quên bà con, cô bác nơi Viện sơ tán đã hết sức giúp đỡ, đùm bọc trong những ngày vô cùng gian nan đó.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một số cán bộ của Viện đã được điều vào Nam trực tiếp chiến đấu và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Các đồng chí ở lại công tác tại Viện cũng đã hoàn thành tốt các chức trách được giao và khi kết thúc chiến tranh, nhiều đồng chí đã được Nhà nước tặng thưởng huân chương các loại.

Bài học lớn nhất của giai đoạn 1964 - 1975 là bài học lấy tư tưởng của Đảng làm chỗ đứng, lấy sức mạnh của Đảng làm chỗ dựa, lấy việc hoàn thành  nhiệm vụ công tác chuyên môn làm chất kết dính, vừa đoàn kết, vừa đấu tranh; vừa kiên quyết đấu tranh, vừa ra sức đoàn kết. Và để thực hiện được những điều kể trên, thái độ thận trọng, khách quan, bao dung và dũng cảm của người đứng đầu cơ quan và thái độ của tất cả mọi cán bộ biết vượt lên trên tất cả những định kiến hẹp hòi, mặc cảm trong quan hệ cá nhân với nhau để hợp tác với nhau trong sự nghiệp chung là có ý nghĩa quyết định.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đưa giang sơn về một mối. Trong khoảng thời gian giữa các kỳ đại hội Đảng, Viện Triết học xác định cho mình nhiệm vụ cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, quan điểm của Đảng và sau đại hội, tiến hành thuyết minh, tuyên truyền các nghị quyết. Bên cạnh đó, nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra cũng rất được coi trọng.

Từ khi phạm vi hoạt động và trách nhiệm của Viện mở rộng ra cả nước, công tác nghiên cứu lý luận được đẩy mạnh, đồng thời việc giảng dạy triết học ở đại học cũng trở thành nhiệm vụ quan trọng. Các cán bộ của Viện đã tham gia giảng dạy tất cả các chuyên ngành cho Khoa Triết học thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng, Viện Triết học đã góp phần quan trọng vào việc sáng lập và đào tạo tại các Khoa Triết học ở đại học Việt Nam. Quan hệ quốc tế được mở rộng, nhờ đó uy tín quốc tế của Việt Nam cũng được tăng lên, trong đó có cả uy tín về lĩnh vực triết học. Nhiều cán bộ của Viện được cử đi giảng dạy ở nước ngoài. Viện tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của đất nước, của lịch sử tư tưởng dân tộc, về giá trị văn hoá tinh thần; về mối quan hệ giữa triết học và các khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật; về sự phân kỳ chủ nghĩa xã hội và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; v.v..

Đặc biệt, trước và khi bắt đầu quá trình đổi mới, Viện đã đứng ra tổ chức Hội thảo về đổi mới tư duy. Hội thảo này đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà khoa học trên tất cả các lĩnh vực và đã có tiếng vang tốt. Nó cũng đánh dấu một sự chuyển biến trong suy nghĩ và trong thực tế nghiên cứu những năm về sau này; nhờ đó mà ở một số bài viết và công trình từ đó về sau đã cung cấp được những luận chứng, góp phần vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Về mặt nghiên cứu khoa học, thời kỳ 1975 - 1986 là thời kỳ gặt hái những thành quả mà thời kỳ trước đó đã chuẩn bị, đồng thời cũng tạo thêm những điều kiện mới cho thời kỳ tiếp theo. Thành quả rõ nhất đã đạt được trong 11 năm ấy là khoảng 650 bài nghiên cứu đã được công bố thuộc tất cả các lĩnh vực của khoa học triết học và nhiều cuốn sách đã được xuất bản.

Cũng trong thời kỳ này, một loạt các công trình hợp tác của Viện với Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô được xuất bản.

Cùng với thời gian, khả năng và trình độ nghiên cứu của các cán bộ trong Viện đã trưởng thành vượt bậc. Điều này thể hiện trên các mặt xác định phương hướng, lựa chọn đề tài, xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện, v.v.. Nhiều công trình được công bố vừa có tính chất lý luận, vừa có sự tổng kết tình hình thực tiễn. Có những công trình khá súc tích và đặt ra được những vấn đề mới hoặc lý giải vấn đề theo cách mới. Một số cuốn sách kể trên đã được dư luận đánh giá cao, có cuốn đã được tái bản, có cuốn trở thành tài liệu tham khảo quý đối với người học, nhất là đối với sinh viên chuyên ngành triết học, cũng có cuốn đã trở nên khan hiếm và có nhu cầu in lại.

Ghi nhận tất cả những đóng góp của Viện Triết học, năm 1984 Nhà nước đã trao tặng Viện Huân chương Lao động hạng II và Tạp chí Triết học Huân chương Lao động hạng III.

Đại hội lần thứ VI của Đảng không những mở ra một thời kỳ mới cho đất nước, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho cả ngành triết học và giới triết học nước nhà. Chính do đường lối mở rộng dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà bộ mặt của triết học cũng có những thay đổi đáng kể, sự đóng góp của giới triết học cho đất nước cũng rõ nét hơn, có hiệu quả hơn.

Trong quy định mới nhất của Nhà nước, Viện có chức năng nghiên cứu những vấn đề triết học trong nước và thế giới, nhất là những vấn đề mới nảy sinh  từ thực tiễn Việt Nam. Từ góc độ triết học, góp phần vào việc cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vào việc xây dựng thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung cho cán bộ và nhân dân ta.

Cùng với sự nghiệp đổi mới của cả nước, Viện đã đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận mà thực tiễn đặt ra nhằm tìm kiếm những lời giải khoa học, khả thi cho các vấn đề ấy. Chính vì vậy, chất lượng các công trình được công bố ngày càng cao hơn, có sức thuyết phục hơn và được giới lý luận, được các cơ quan quản lý và lãnh đạo quan tâm theo dõi, được Nhà nước và các tổ chức đặt hàng.

Nắm bắt được các yêu cầu của thực tiễn, những kết quả nghiên cứu chính trong giai đoạn này được thể hiện ở hai hướng cơ bản:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn được đặt ra trong quá trình phát triển của nước ta thời kỳ đổi mới.

- Khai thác các giá trị trong di sản tư tưởng, nhất là tư tưởng triết học, và văn hoá của dân tộc.

Để góp phần làm rõ cơ sở khoa học của sự nghiệp đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong hướng thứ nhất, việc nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây: các cơ sở lý luận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mô hình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta; vấn đề động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; vấn đề dân chủ hoá đời sống xã hội; nghiên cứu và nhận thức lại di sản của các nhà kinh điển về chủ nghĩa xã hội và hàng loạt các vấn đề khác trong các lĩnh vực cụ thể khác nhau của đời sống xã hội, của sự nghiệp đổi mới. Trong hướng này, hàng trăm bài viết đã được đăng trên các tạp chí khoa học và nhiều chuyên khảo khác nhau đã được xuất bản.

hướng thứ hai, nhằm kế thừa và vận dụng có hiệu quả di sản tư tưởng triết học, văn hoá của cha ông, Viện đã tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản như: lịch sử tư tưởng, trước hết là tư tưởng triết học Việt Nam; lịch sử Phật giáo Việt Nam; các vấn đề của Nho giáo và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam; đặc biệt là các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các kết quả nghiên cứu trên, trực tiếp nhất là kết quả của những công trình của hướng nghiên cứu thứ nhất, đã góp phần vào việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng ta. Từ các kết quả nghiên cứu của mình, Viện đã có những kiến nghị góp vào việc soạn thảo Cương lĩnh, Chiến lược kinh tế - xã hội đến năm 2000, văn kiện các kỳ đại hội Đảng và các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước, trong đó có những kiến nghị đã được tiếp thu và sử dụng. Nhiều cán bộ trong Viện đã được các cấp lãnh đạo tin cậy giao các công việc đòi hỏi trình độ lý luận cao.           

Từ năm 1991 đến nay, Viện đã được giao chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước. Nhìn chung, các đề tài do Viện chủ trì đều hoàn thành đúng hạn và đạt chất lượng tốt hoặc xuất sắc.

Ngoài ra, từ giữa những năm 90 đến nay, Viện cũng đã hoàn thành một số đề tài cấp Bộ, đã được nghiệm thu và xuất bản.

Đặc biệt, những năm cuối thập kỷ 80 trở đi, Viện rất quan tâm đầu tư cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng nói chung và lịch sử tư tưởng triết học nước nhà nói riêng, nhờ vậy đã hoàn thành 3 tập Lịch sử tư tưởng Việt Nam và đã xuất bản 2 tập đầu. Bắt đầu từ năm 2002 đến nay, Viện Triết học đang tập trung nghiên cứu Lịch sử t­ư tư­ởng triết học Việt Nam. Các tác giả đã hoàn thành tập 1 và bản thảo đã được chuyển sang nhà xuất bản, đồng thời đang tiến hành nghiên cứu tập 2. Nếu bộ Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam được hoàn thành thì đây sẽ là một tài liệu bổ ích và quý giá cho việc giảng dạy lịch sử triết học Việt Nam.

Cùng với thời gian, số lượng các bài báo, các công trình của cán bộ trong Viện được in ở nước ngoài hoặc được dịch sang tiếng nước ngoài ngày một nhiều hơn.

Sự hợp tác với các nước khác trong khu vực và trên thế giới cũng dần dần được mở rộng, nhiều cuộc đi thăm, trao đổi khoa học và tham dự các cuộc hội thảo hai bên và nhiều bên được thực hiện thường xuyên hơn. Trong thời gian từ khi bắt đầu đổi mới đến nay, bằng nhiều con đường khác nhau, đã có hơn 100 lượt người được ra nước ngoài học tập, nghiên cứu hoặc dự hội thảo khoa học tại các nước và các vùng lãnh thổ như ấn Độ, Inđônêsia, Thái Lan, Singapo, Malaisia, Trung Quốc, Nhật Bản, Canađa, Mỹ, Nga, Đài Loan, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Thổ Nhĩ Kỳ; có Giáo sư được mời sang Singapo báo cáo về Triết học trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Nhiều anh chị em ra nước ngoài học tập đã bảo vệ thành công luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học.

Từ những năm 90 đến nay, Viện đã đứng ra tổ chức và chủ trì một số hội thảo khoa học quốc tế tại Hà Nội với sự tham gia của các học giả đến từ nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới.

Viện cũng đã mời các giáo sư nước ngoài trình bày các bài giảng về những vấn đề triết học mới nhất trên thế giới nhằm cập nhật kiến thức cho cán bộ trong Viện.

Đặc biệt, Viện đã có cán bộ tham gia Đại hội triết học thế giới lần thứ XIX tại Mátxcơva (tháng 8 - 1993), lần thứ XX vào tháng 8 - 1998 tại Boxton, Mỹ và lần thứ XXI tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 8 năm 2003. Tại Đại hội lần thứ XX, Đoàn Việt Nam đã phối hợp tổ chức và chủ trì Hội nghị bàn tròn Về triết học Việt nam và giáo dục triết học ở Việt Nam có sự tham gia của nhiều học giả thế giới. Để chuẩn bị cho Đại hội triết học thế giới lần thứ XXII sẽ được tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc vào năm 2008, tháng 6 năm 2006, Viện Triết học đã phối hợp với Liên đoàn các hội triết học quốc tế (FISP) tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề Nhận thức lại vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu. Hội thảo đã có sự tham gia của gần 50 học giả quốc tế, trong đó nhiều học giả là uỷ viên Ban chấp hành Liên đoàn các hội triết học quốc tế.

Đánh giá một cách khái quát những thành quả quan trọng mà Viện Triết học đạt được trong hơn 40 năm qua, cần phải nhắc đến trước tiên là việc Viện đã góp phần trang bị tư duy lý luận, thế giới quan khoa học và phương pháp luận triết học Mác - Lênin cho đông đảo cán bộ và nhân dân ta. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vì tất cả những cái đó là cơ sở để cho lý luận cách mạng và đường lối cách mạng của Đảng thâm nhập vào cán bộ và quần chúng, trở thành niềm tin khoa học, trở thành sức mạnh vật chất để đánh thắng kẻ thù trong chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và giành những thành tựu to lớn trong công cuộc kiến thiết đất nước.

Trong giai đoạn cả nước có chiến tranh và thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, Viện Triết học đã khai thác những giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong di sản tư tưởng của cha ông, đặc biệt là chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhằm phục vụ kịp thời cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng hậu phương lớn của cả nước.

Song song với điều đó, một số công trình nghiên cứu cũng đã tập trung phê phán đối với sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác, phê phán các trào lưu triết học phản động - công cụ của chủ nghĩa thực dân mới, nhất là chủ nghĩa duy linh - nhân vị. Đồng thời, trong giai đoạn này, Viện cũng đã có những công trình nghiên cứu về con người, khẳng định vai trò quyết định của con người, của nhân tố chủ quan, chứ không phải của sức mạnh vũ khí trong chiến tranh.

Từ khi bắt đầu quá trình đổi mới đến nay, Viện đã có hàng loạt công trình lớn, nhỏ khác nhau đi sâu vào các vấn đề lý luận do thực tiễn đất nước đặt ra. Nhờ môi trường học thuật được cải thiện rõ rệt, cho nên nhiều cuộc hội thảo khoa học đã được tổ chức và chính điều đó tạo nên một khí thế mới cho công tác nghiên cứu. Không ít ý kiến mà về sau được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí là khá mới và lúc đầu không khỏi gây nên một sự phản ứng nhất định nào đó. Rất may là thực tế cuộc sống đã nhanh chóng, hoặc còn phải chờ một thời gian nào đó, xác nhận tính đúng đắn của những ý kiến như vậy. Đảng và Nhà nước ngày càng tin tưởng hơn vào khả năng của đội ngũ những người nghiên cứu lý luận nói chung và những người công tác trong lĩnh vực triết học nói riêng. Nhờ vậy, một số anh chị em trong Viện đã được giao nhiều nhiệm vụ, đã tham gia tích cực và có kết quả vào nhiều đề tài hoặc chương trình nghiên cứu khoa học các cấp khác nhau và từ góc độ của mình, đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục đổi mới tư duy, trước hết là tư duy lý luận, đổi mới xã hội, hoạch định cương lĩnh, chiến lược kinh tế - xã hội, các chính sách của Đảng và Nhà nước.

Một đóng góp quan trọng của bộ môn lịch sử triết học trong những năm qua là đã kiên trì từng bước tập hợp tư liệu, tiến hành dịch và khai thác những giá trị về tư tưởng và triết học của dân tộc đã được tích lũy suốt hàng bao thế kỷ nay. Những việc làm này đã được tiến hành với các mức độ và quy mô khác nhau tuỳ theo từng thời điểm lịch sử, ngay từ khi đất nước còn đang bị chia cắt cho đến tận hôm nay. Kết quả là, Viện đã có được những công trình của tập thể hoặc của các cá nhân nghiên cứu về từng nhà tư tưởng lớn của dân tộc hoặc về một giai đoạn nhất định trong lịch sử. Một vài công trình trong số đó đã được tái bản nhiều lần và được biết đến rộng rãi cả ở trong lẫn ngoài nước. Liên quan đến mảng đề tài lịch sử tư tưởng triết học, gần đây việc nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh cũng đã bắt đầu được quan tâm.

Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về phép biện chứng, về chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhiều công trình đã lần lượt được xuất bản. Trong số các công trình này, có công trình mang tính cơ bản, đi sâu vào những khía cạnh lý luận chưa được khai thác sâu hay còn có ý kiến khác nhau và có công trình mang tính ứng dụng nhằm góp phần lý giải các vấn đề bức xúc của đất nước. Tùy từng thời kỳ mà trọng tâm chú ý được tập trung vào các vấn đề khác nhau. Song, từ nhiều góc độ, các vấn đề về ý thức, về mâu thuẫn, về phát triển, về động lực của sự phát triển, về tiến bộ xã hội và tiêu chuẩn của sự tiến bộ xã hội, cũng như của sự phát triển và sự tiến bộ của xã hội Việt Nam nói riêng, về khả năng và vấn đề nghệ thuật vận dụng các khả năng, v.v. được quan tâm nhiều hơn cả và cũng là chỗ có nhiều đóng góp hơn cả.

Theo hướng nghiên cứu cơ bản, những người làm công tác nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng, một mặt, luận giải một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; trên cơ sở đó, có sự điều chỉnh, chính xác hoá những cách hiểu khác nhau, để từ đó ngày càng có được cách hiểu chính xác hơn; mặt khác, nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó; trên cơ sở ấy, đề ra những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Trong những năm qua, các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tập trung làm rõ thêm một số khái niệm, phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật, như vật chất, ý thức, vận động, phát triển, tiến bộ, quy luật, mâu thuẫn, khả năng và hiện thực, tự do và tất yếu, v.v..

(Tiếp...)



 
 
 
Search
Software library
Documents look up
 
 
 
Liên hệ Quảng cáo
 

Copyright 2006-2007 Viện triết học, All rights reserved.
Address: 59 Lang Ha - Ba Đinh - Ha Noi. Tel: (84-4) 514 0517 - 514 0528. Fax:( 84-4) 514 1935. Email: vnphilosophy@yahoo.com