|
Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Đại học Kyoto (Nhật Bản), ngày 4 – 5 – 2010, tại Hà Nội, Viện Triết học đã tổ chức buổi toạ đàm khoa học với chủ đề: Quyền sở hữu, tín dụng thương mại và các doanh nghiệp ở Trung Quốc.
Tham dự buổi toạ đàm là các cán bộ nghiên cứu Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, các học viên cao học, nghiên cứu sinh của Viện Triết học, các học giả đến từ Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Kyoto.
Chủ đề buổi Toạ đàm là báo cáo của Giáo sư Go Yano đến từ Đại học Kyoto với tiêu đề: Quyền sở hữu, tín dụng thương mại và các doanh nghiệp Trung Quốc.
Đặt vấn đề cái gì có thể phát triển năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp trong các nền kinh tế đang phát triển? Giáo sư G.Yano đưa ra hai nhân tố cơ bản, đó là: quyền sở hữu và phát triển tài chính. Theo Giáo sư, các doanh nghiệp muốn phát triển thì cần có một bộ khung pháp lý rõ ràng, nghĩa là cần có sự đảm bảo của Nhà nước. Hơn nữa, các doanh nghiệp thường khởi đầu bằng số vốn nhỏ, tiềm lực tài chính không mạnh. Vì vậy, việc đảm bảo quyền sở hữu bằng (luật pháp hoạt động hữu hiệu) và phát triển tài chính là rất quan trọng cho sự phát triển của các doanh nghiệp, của nền kinh tế quốc gia. Việc chỉ coi trong một trong hai nhân tố đó đều có thể làm chậm quá trình phát triển kinh tế.
Để minh chứng cho điều này, Giáo sư G.Yano đã đưa ra ví dụ về sự phát triển kinh tế của các nước Nga, Đông Âu và Trung Quốc – những nước đều có xuất phát điểm từ nền kinh tế truyền thống chuyển sang nền kinh tế thị trường. Theo Giáo sư G.Yano, Nga hay các nước Đông Âu đã coi trọng việc đảm bảo quyền sở hữu hơn so với việc phát triển tài chính. Còn Trung Quốc thì coi trọng cả việc đảm bảo quyền sở hữu và phát triển tài chính ngang nhau. Kết quả là: qua một thời gian chuyển đổi, nói chung, có thể thấy, kinh tế Trung Quốc có sự phát triển năng động và có hiệu quả hơn so với Nga và các nước Đông Âu.
Nghiên cứu cụ thể hơn trong trường hợp Trung Quốc về vai trò của hai nhân tố này, tác giả cho rằng, đã có sự khác biệt trong sự phát triển gữa khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước. Vùng duyên hải các doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích nên có sự phát triển tốt. Ngược lại, ở trong nội địa, nơi mà kinh tế nhà nước vẫn có sự chi phối thì kinh tế tư nhân kém phát triển.
Giữa quyền sở hữu và phát triển tài chính có một mắt xích trung gian rất quan trọng - đó là tín dụng thương mại. Tín dụng thương mại tác động trực tiếp đến sự phát triển các doanh nghiệp. Tín dụng thương mại phát triển sẽ làm đầu tư khu vực tư nhân phát triển thuận lợi hơn. Quyền sở hữu được đảm bảo bằng việc (luật pháp hoạt động hữu hiệu) và tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống luật pháp hoạt động hiệu quả sẽ khiến cho tín dụng thương mại phát triển hơn; qua đó, tạo ra nhiều sự đầu tư tư nhân hơn (trong các nước có nền kinh tế phát triển, khu vực tư nhân đóng góp một tỷ lệ GDP rất lớn). Mặt khác, hệ thống luật pháp hoạt động tốt có thể cho phép các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường cạnh tranh dễ dàng hơn. Tính cạnh tranh thị trường càng phát triển thì tín dụng thương mại cũng càng phát triển hơn.
Báo cáo cũng cho rằng, ngoài các nhân tố trên, các trung gian tài chính không chính thức khác cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, như hoạt động cho vay giữa các cá nhân và các công ty, hay các tổ chức tài chính không chính thức, như ROSCAs (hội luân phiên tiết kiệm và tín dụng). Các ROSCAs này có vai trò tich cực cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế địa phương. Do vậy, Nhà nước, về mặt pháp lý, cũng cần giúp đỡ các ROSCAs này.
Tín dụng thương mại có vai trò như thế nào trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua và các doanh nghiệp tư nhân có được hưởng lợi gì trong các chính sách phát triển tín dụng thương mại không? Trả lời câu hỏi này, Giáo sư G.Yano cho rằng, trong trường hợp cụ thế của Trung Quốc (và ngay cả Việt Nam cũng vậy), hệ thống ngân hàng nhà nước có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Vì vậy, trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua, việc Trung Quốc đưa ra các gói kích cầu lớn thì nơi được hưởng lợi nhiều nhất là khu vực kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, khu vực kinh tế tư nhân cũng được hỗ trợ nhiều về tín dụng qua các gói kích thích này.
Giáo sư cũng xác nhận rằng, sau cuộc khủng hoảng này, có rất nhiều người, đặc biệt là tầng lớp trẻ, tìm kiếm, nghiên cứu những tác phẩm của Mác về kinh tế, về chủ nghĩa tư bản,… số người Nhật Bản gia nhập Đảng Cộng sản cũng tăng lên.
Phát biểu kết luận tại buổi Toạ đàm, PGS,TSKH. Lương Đình Hải, Phó Viện trưởng Viện Triết học cho rằng, báo cáo của Giáo sư Yono về bảo vệ quyền sở hữu, phát triển tài chính và các doanh nghiệp, đã đề cập đến những vấn đề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam, cung cấp nhiều chất liệu cho việc suy ngẫm, nghiên cứu nhiều vấn đề của Việt Nam, đặc biệt là vấn đề phát triển không đồng đều giữa hai khu vực doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, về mối quan hệ giữa quan chức nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước. PGS,TSKH. Lương Đình Hải cũng cho rằng, buổi Toạ đàm với báo cáo của Giáo sư Go Yano đã tạo ra cơ hội trao đổi học thuật, cũng như những nghiên cứu thực tiễn về những lĩnh vực mà Viện Triết học và Đại học Kyoto cùng quan tâm trong các lĩnh vực như: như triết học, chính trị học .v.v..
Cao Hằng
Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
|